TÌM KIẾM NÂNG CAO

Upload

Quản trị chuỗi cung ứng, Đánh giá tài chính chuỗi cung ứng

 

 

   ĐÁNH GIÁ TÀI CHÍNH

Chúng ta hãy nhỡ lại rằng phương pháp thẻ điểm cân bằng (BSC) nhấn mạnh vào việc nâng cao giá trị cho các cổ đông. Vì vậy, các nahf quản trị giao vận logistics  phải được thông tin và sẵn sàng chứng minh rằng thực tiễn và các quy trình hoạt động của chuỗi cung ứng có tác dộng đến tình hình tài chính của toàn bộ tổ chức. Hệ thống đo lường phải trợ giúp cho nhà quản trị giao vận thấy được sự kết nối giữa kết quả hoạt động của chuỗi và các kết quả tài chính. Để thực hiện có hiệu quả công việc này, nhà quản trị giao vận phải dựa vào hai công cụ đánh giá tài chính: sau phân tích doanh thu- chi phí và mô hình lợi nhuận chiến lược.

Phân tích chi phí/doanh thu

Để thấy được kết quả của việc tích hợp logistics yêu cầu lập ra khung phân tích về chi phí/doanh thu. Nếu phương thức kế toán truyền thông thì rất khó để hoạch toán chi phí logistics, nhưng nhờ việc sử dụng phương thức hạch toán chi phí dựa trên hoạt động, được xem là cách hứa hện nhất để xác ddingj và kiểm soát các chi phí logistics, đã giúp hoàn thiện phương thức luận về dự toán giá thành và lãi gộp

Thực tiễn kế toán chung

Hai bảng báo cáo tài chính chính trong một doanh nghiệp kinh doanh là bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo thu thập. Bảng cân đối kế toán chỉ ra cho chúng ta thấy được tình trạng tài chính của một công ty ở tại mọt thời điểm xác định. Mục đích của bảng cân đối kế toán là thống kê tất cả những tài sản và những khoản nợ để từ đó xác định được nguồn vốn chủ sở hữu. Báo cáo thu thập cho ta thấy doanh thu và chi phí liên quan đến những hoạt động cụ thể của công ty trong suốt một thời kỳ. Mục đích của báo cáo thu nhập thể hiện trong chính cái tên thu thập của nó, ngĩa là chỉ ra những thành công về mặt tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp. Chi phí logistics là một phần không thể thiếu trong cả hai bảng báo cáo trên những thiếu sót cơ bản trong việc xác định những chi phí và phân tích về logistics là do các cách thức kế toán chi phí mang tính chất hóa đã xác định, phân loại và báo cáo. Tuy nhiên, những phương pháp kế toán truyền thông đã không đáp ứng đầy đủ những yêu cầu trong việc dự toán chi phí logistics.

Vấn đề đầu tiên xuất phát từ thực tế là thông lệ kế toán thích hoạch định chi phí dựa trên tài khoản thông  thường hay tài khoản tiêu chuẩn hơn là dựa trên hoạt động. Việc nhóm những chi phí vào trong một tài khoản đã được chuẩn hóa như tài khoản tiền lương, tiền thuế và khẩu hao thì không đủ cơ sở để nhận diện và xác định những chi phí nội tại của từng hoạt động cụ thể. Để khắc phục nhược điểm này (tức giúp hạch toán vào từng tài khoản đã được chuẩn hóa một cách chính xác hơn) thì người ta thường chia bảng báo cáo kế toán của doanh nghiệp thành hai loại: Báo cáo dành cho hoạt động quản trị và báo cáo kế toán chung. Nhìn chung, những báo cáo thu thập nội bộ đã phân loại và nhóm những chi phí theo từng ngân sách của một hoạt động. nhờ đó chi phí được hạch toán một cách cụ thể theo mục đích quản trị. Tuy nhiên, nhiều khoản chi phí liên quan đến hoạt động logistics được cắt giảm trên mỗi đơm vị sản phẩm. ví dụ,những nỗ lực cắt giảm hàng tồn kho sẽ giảm chi phí vận chuyển lưu kho nhưng điều này cũng gia tăng số hàng trả lại, khiến tổng chi phí vận chuyển tăng lên. Kết quả là bảng dữ liệu không đủ để đo lường hiệu quả của quá trình tích hợp đó.

Khiếm khuyết chông chéo của việc dự toán liên quan đến phương pháp báo cáo chi phí vận tải theo cách truyền thống . Trong hạch toán bán lẻ, thực tế người ta thường bỏ chi phí vận chuyển hàng mua ra khỏi tổng doanh thu và xem nó như một phần hàng đang đi trên đường khi tính tổng lộ nhuận bán hàng. Mặt khác, chi phí vận chuyển hàng bán thì được tính như là chi phí hoạt động. Tuy nhiên trường hợp cước phí không được hạch toán như một chi phí cụ thể. Nhiều sản phẩm được mua theo giá giao tận nơi – là giá đã bao gồm cả chi phí vận chuyển. Hầu hết các thủ tục mua hàng hiện đại đều đòi hỏi việc phản ánh chi phí cuat tất cả dịch vụ, bao gồm cả chi phí vận chuyển, phỉ đạt được tách ra từ tổng chi phí mua hàng nhằm mục đích định giá các hoạt động.

Khiếm khuyết cuối cùng trong thực tiễn kế toand theo phương pháp truyền thống là sự thất bại trong việc nhận diện và địn rõ chi phí hàng tồn kho khiếm khuyết này thể hiện ở hai lĩnh vực. Đầu tiên, toàn bộ chi phí liên quan đến việc bảo quản hàng tồn kho như bảo hiểm và thuế, thì không được xác định rõ ràng, tức những chi phí này đã bị mờ đi hay bị che đậy trong việc hạch toán chi phí hàng tồn kho. Hai là, gánh nặng tài chính cho những tài sản được cho chi phí tồn kho nguyên liệu, bán thành phần và thành phẩm cũng không dược xác định, đo lường hay tách ra rõ ràng từ những hoạt động  khác trong toàn bộ chi phí vốn mà công ty gánh chịu. Thực ra nếu một công ty triển khai những nguồn quĩ nội bộ để hỗ trợ cho những yêu cầu về bảo quản tồn kho, điều này dẫn đến không có chi phí vốn nào được phản ánh trong bảng phân tích lãi lỗ.

Để khắc phục những thiếu sót này, cần phải có một số sửa lỗi trong đó phương pháp  kế toán truyền thông để có thể hoạch định được những chi phí logistics. Đặc biệt, hia khoản phí lớn nhất trong quản trị logistics là chi phí vận tải và hàng tồn kho – theo phương pháp hạch toán truyền thông là đã làm mờ đi tầm quan trọng của chúng hơn là nhấn mạnh chúng. Mặc dù đã có những cải tiến, song sự tách biệt thông thường và việc hạch toán chi phí quản trị logistics vẫn chưa có một chuẩn mực nhất định trong hầu hết các doanh nghiệp.

Để kiểm soát các chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động thì việc xác định và lượng hóa toàn bộ chi phí liên quan là hết sức cần thiết cho nahf quản trị. Chi phí logistics cũng là một thông số để các nhà quản trị quyết định xem phân khúc kinh doanh nào đang hoạt động có lãi: khách hàng, đơn đặt hàng, sản phẩm, kênh phân phối hay dịch vụ. Điều này đòi hỏi kết nối những doanh thu của mối hoạt động với những chi phí của hoạt động đó.

Việc hạch toán hiệu quả đòi hỏi sự xác định những chi phí riêng lẻ chứa đựng tỏng một khung phân tích nhất định. Hai khung phân tích được đề xuất nhiều nhất đó là phương pháp dóng góp và phương pháp lợi nhuận ròng.

Phương pháp đóng góp

Phương pháp đóng góp thuần túy tất cả các chi phí được phân thành chi phí cố ddingj hay chi phí cố định hay chi phí biến đổi tuy theo đặc tính của nó. Chi phí cố định là những chi phí không trực tiếp thay đổi theo những thay đổi của hoạt dộng kinh doanh. Trong ngắn hạn, những chi phí này vẫn duy trì ngay cả khi hoạt dộng kinh doanh không còn nữa. Ví dụ, chi phí mua một chiếc xe tải là chi phí cố định. Nếu chiếc xe tải giá $40.000 thì doanh nghiệp phải chi $40.000 (hoặc với một mức khấu trừ thích hợp) dù cho xe tải được sử dụng cho một hay 1.000 lần vận chuyển. Chi phí biến đổi là những chi phí sẽ thay đổi khi hoạt dộng sản xuất kinh doanh biến đổi. Chi phí xăng dầu cho hoạt động của chiếc xe tải là một chi phí biến đổi:  tổng tiền xăng phụ thuộc vào mức độ thường xuyên và khoảng cách vận chuyển.

Trong khung phân tích đóng góp này thì việc nhận diện những chi phí trực tiếp  và chi phí gián tiếp rất cần thiết. Những chi phí trực tiếp là những chi phí gánh chịu để đảm bảo sự tồn tại của sản phẩm; khách hàng hoặc những phân khúc khác. Nếu phân khúc đó bị loại bỏ đi thì chi phí trực tiếp sẽ biến mất. Tất cả những chi phí biến  đổi liên quan đến những sản phẩm cụ thể, khách hàng, kênh phân phối và những phân khúc cụ thể đều có thể là chi phí trực tiếp. Một vài chi phí cố định có thể là chi phí trực tiếp. Một vài chi phí cố định có thể là chi phí trực tiếp nếu chúng tồn tại để cung cấp cho một phân đoạn hoạt động nhất định. Ví như nhà kho được xay dựng chuyên biệt để hỗ trợ cho một dây chuyền sản xuất cụ thể hay là nơi lưu trữ hàng cho những khách hàng chính. Chi phí gián tiếp tồn tại liên quan đến nhiều hơn một phân khúc kinh doanh và nó sẽ tiếp tục tồn tại mặc dù một phân khúc không tồn tại nữa. Vì vậy, một nhà xưởng với nhiều dây chuyền sản xuất có thể tiếp hoạt động dù cho một dây chuyền đã không hoạt động nữa. Trong trường hợp này chi phí nhà xưởng được hạch toán vào chi phí gián tiếp.

Bảng báo cáo thu thập được hạch toán theo phương pháp đóng góp có thể dùng xác định lời lãi của một phân khúc bởi việc xác định những chi phí nào là cố định,  thay đổi , trực tiếp hay gián  tiếp. Bảng 12.3 là một ví dụ mang tính giả thuyết về bảng báo cáo thu thập một công ty để phân tích khả năng thu lời từ hai khách hàng, bệnh viện và người bán lẻ. Chi phí biến đổi của hàng bán bao gồm chi phí nhân công trực tiếp, chi phí nguyên vật liệu, chi phí cung ứng khác được hạch toán trực tiếp vào tổ hợp những sản phẩm được bán cho từng phân khúc khách hàng. Tất cả những chi phí quản lý chung được xem như là những chi phí gián tiếp trong phương pháp lợi nhuận đóng góp. Chi phí trực tiếp biến đổi gồm nhiều loại như tiền hoa hồng từ bán hàng, giảm giá, chi phí logistics xác định liên quan đến việc cung cấp dịch vụ cho mỗi khách hàng riêng biệt cũng như những chi phí trực tiếp khác liên quan đến doanh số bán cho mỗi khách hàng. Chi phí trực tiếp cố định bao gồm tất cả các chi phí khác mà nó liên quan trực tiếp đến từng khách hàng cụ thể. Chi phí trên có thể bao gồm những lĩnh vực như doanh số, lương, chi phí hoạt động, quản cáo, vận chuyển, kho bãi, quy trình đặt hàng và những hoạt động logistics khác. Điều quan trọng là những chi phí này phải được tính một cách trực tiếp trong sản phẩm mà mỗi khách hàng mua nó.Chi phí cố định gián tiếp bao gồm tất cả các chi phí khó có thể định ra cho mỗi phân khúc khách hàng riêng biệt. Nhiều chi phí phụ thuộc loại này cũng có thể là chi phí liên quan đến quản trị logistics. Ví dụ, nhà kho (tức là nhà kho chung để dự trữ hàng hóa của nhiều khách hàng chứ không dành riêng cho một khách hàng nào), phương tiện vận tải và những nguồn lực dùng chung khác sẽ được phân loại như những chi phí gián tiếp.

Trong bảng 12.3, cả hai khách hàng đều chịu các chi phí trực tiếp và mỗi phần chi phí cố định gián tiếp. Tuy nhiên tỷ lệ đóng góp ròng của bệnh viện cao hơn so với các nhà bán lẻ- 37% so với 26%. Có sự khác biệt lớn này là do sự khác nhau trong lợi nhuận ròng biến đổi 58% của bệnh viện so với 50% của các nhà bán lẻ. Sự khác biệt này đã dẫn đến phân tích là có nên tiếp tục cung cấp sản phẩm cho các nhà bán lẻ nữa không hay là tập trung vaò phân khúc mà thu lợi nhuận nhiều hơn. Nhưng rõ ràng việc ngừng cung cấp hàng cho nhà bán lẻ lại là một sai lầm dễ thấy vì lúc đó khách hàng bệnh viện phải chịu tất cả các chi phí cố định gián tiếp nên dẫn đến khoản lỗ $4,000.

Bảng 12.3: Báo cáo thu thập theo phương pháp đóng góp

 

Bệnh viện

Nhà bán lẻ

Tổng cộng

Doanh thu

Trừ đi: Chi phí sản xuất biến đổi

Lợi nhuận gộp

Trừ đi: Chi phí trực tiếp biến đổi

Phần dóng góp

Trừ đi: Chi phí trực tiếp cố định

Phần đóng góp thuần

Trừ đi: Chi phí cố định gián tiếp

Lợi nhuận ròng

Tỷ lệ đóng góp ròng

$ 100,000

42,000

58,000

6,000

52,000

15,000

$ 37,000

 

 

37%

$ 150,000

75,000

75,000

15,000

60,000

21,000

$ 39,000

 

 

26%

$ 250,000

117,000

133,000

21,000

112,000

36,000

76,000

41,000

$ 25,000

30.4%

(Nguồn: Bowersox, 2010)

Phương pháp lợi nhuận ròng

Phương pháp lợi nhuận ròng trong đánh giá tài chính của những phân đoạn thị trường đòi hỏi tất cả các chi phí hoạt động phải được xác định hay được phân bổ vào từng phân đoạn thị trường. Những chuyên gia đề xuất phương án này cho rằng tất cả những hoạt động của doanh nghiệp tồn tại để hỗ trợ cho quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa, dịch vụ đến khách hàng. Hơn nữa, thực ra trong nhieuf công ty, hầu hết các chi phí đều là chi phí đều là chi phí chung. Để xác định lợi nhuận thực sự của một kênh, một khu vực, một sản phẩm thì một phân đoạn thị trường phải được phân bố những khoản chi phí cố định gián tiếp trên cơ sở doanh số bán sẽ cho kết quả là đối với khách hàng là bệnh viện, doanh nghiệp mất 40% chi phí tương đương $ 16,400 và dối với người bán lẻ là 60% chi phí tương đương $ 24,600. Lãi ròng từ việc bán sản phẩm cho bênh viện sẽ được tính là $ 20,600. Lãi ròng từ khách hàng là người bán lẻ sẽ là $14,400.

Rõ ràng, những vấn dề cụ thể nảy sinh rong việc xác định cách thức để phân bố những chi phí gián tiếp một cách hợp lý. Những người đề xuất ra phương pháp lợi nhuận đóng góp khẳng định rằng sự phân bố như thế phần nhiều mang tính cảm quan và do đó dẫn đến những sai lầm trong đánh giá tài chính. Và họ đưa ra quan điểm sử dụng doanh số bán như là một cơ sở điển hình cho sự phân bố chi phí và những khuynh hướng vốn có trong cách tiếp cận như thế. Tuy nhiên trong ví dụ trên, người bán lẻ chiếm 60% doanh số bán nhưng không hẳn doanh nghiệp mất 60% chi phí của mình cho quảng cáo, kho bãi, thủ tục mua hàng hay bất cứ hoạt động khác đẻ phục vụ cho mỗi loại khách hàng, sản phẩm, đó là tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể chứ không nhất thiết tỉ lệ với doanh số bán theo cách hiểu đơn giản.

Tuy nhiên, những để xuất phuong pháp lợi nhuận ròng tranh cãi như sau: những quan điểm truyền thống về chi phí cố định và biến đổi, chi phí trực tiếp và gian tiếp đã trở nên quá đơn giản. Thực tế, có nhiều chi phí được gọi là chi phí cố định gián tiếp nhưng lại không mang tính chất cố định vhay gian tiếp gì cả. Các chi phí này tăng hay giảm phụ thuộc vào tình hình kinh doanh tại các phân khúc thị trường.

Kế toán chi phí dựa trên hoạt động

Vì giải pháp không hoàn chỉnh cho vấn đề phân bố chí mang tính cảm quan, phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động và sau đó, những hoạt dộng phải được xác định là co liên quan trực tiếp  đến một sản phẩm cụ thể hay một phân khúc khách hàng cụ thể . Chẳng hạn, chi phí xử lý đơn hàng về căn bản là chi phí cố định gián tiếp trong ví dụ mang tính giả thuyết ở trên, được tính là $ 5,000. Việc phân bố chi phí này vào hai khách hàng dựa trên doanh số bán kết quả là mức phí $ 2,000 đối với bệnh viên là $3,000 đối với người bán lẻ. Tuy nhiên, có vẻ như bệnh viện rất nhiều đơn hàng trong năm, với số lượng nhỏ trên mỗi đơn hàng, trong khi người bán lẻ có khả năng chỉ đặt một vài đơn hàng lớn. Nếu bệnh viện đặt 80 đơn hàng và người bán lẻ đặt 20 đơn hàng, phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động sẽ tính cho bệnh viện với 80% tương đương $4,000 và người bán lẻ 20% tương đương $ 1,000 trong tổng chi phí xử lý đơn hàng. Áp dụng lập luận như trên đối với những chi phí cố định gián tiếp khác bằng cách xác định các hoạt động và phân bố chi phí có thể dẫn đến sự cải thiện hơn trong khả năng sinh lời từ khách hàng.

Việc xác định những hoạt động, chi phí liên quan và sự phân bố chi phí không dễ dàng gì trong phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động. Chi phí xử lý đơn hàng liên quan đến số lượng đơn hàng trong một công ty và cách thức đặt hàng trong công ty khác. Chi phí bốc hàng tại kho liên quan đến số lượng hàng hóa và khối lượng từng lô hàng được bốc dỡ tại công ty. Chi phí vận chuyển liên quan đến số lượng vận chuyển  và khoảng cách mỗi chuyến vận chuyển. Theo những người đề xuất phương pháp kế toán dựa trên hoạt động, chỉ có 2 loại chi phí nên được loại ra khi phân bố đến các phân khúc thị trường. Thứ nhất, chi phí công suất dư thừa trong một doanh nghiệp không nên đưa vào một phân khúc khi tính toán chi phí. Do vây, nếu 1 hệ thống xử lý đơn hàng có thể xử lý được năm triệu đơn hàng mỗi năm những nó chỉ được sử dụng để xử lý 4 triệu đơn hàng dựa trên thực tế, thì mức dư thừa trong năng lực sản xuất ấy không được tính vào bất kỳ phân khúc nào. Tương tự như thế, nếu 1 nhà kho và những nhân viên của nó có thể bảo quản đến 100,000 đơn vị hàng hóa những lại chỉ sử dụng cho 80,000 đơn vị, mức dư thừa này là một chi phí tính theo môt thời kỳ chứ không phải là một chi phí được gán cho 1 phân khúc đang hoạt động. Ngoài ra, tất cả các chi phí khác có thể và nên hạch toán theo phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động.

Những mâu thuẫn giữa phương pháp hạn mức đóng góp và lợi nhuận ròng trong phân tích phân bổ chi phí đang dần mất đi khi mà những phân tích này ngày một hoàn thiện hơn để có thể xác định chi phí hoạt động. Những người tán thành với phương pháp hạch toán chi phí trực tiếp và hạn mức đóng góp có khả năng phân bổ chi phí theo từng phân khúc dựa trên kết quả của những hoạt đông, nghĩa là cơ sở của phân bổ phải liên quan đến những chi phí thực của hoạt động. Trước đây, những tranh cãi của họ dựa trên tính hợp lý và thích đáng của phương pháp phân bổ chi phí. Thậm chí để xuất thích đáng nhất cho tổng chi phí sẽ không biện luận để ủng hộ sự phân bổ chi phí theo cảm quan. Sự phát triển của hệ thống kế toán chi phí dựa trên hoạt động về cơ bản giải quyết được những tranh cãi này, vốn còn tồn tại trong tiếp thị và phân phối suốt nhiều năm qua.

Mô hình lợi nhuận chiến lược

Nếu như đánh giá chi phí và khả năng sinh lời là 2 phần quan trọng trong kiểm soát tài chính thì tỷ suất sinh lời trên vốn đầu tư (ROI) là một công cụ quyết định nhất của chiến lược thành công. Có 2 cách để xem xét ROI.

Đầu tiên là tỷ suất sinh lợi trên giá trị ròng (RONW), đây là công cụ để đo lường khả năng sinh lợi của đồng vốn mà chủ sở hữu đem đầu tư vào công ty (vốn cổ phần). Thứ hai là tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA), đây là công cụ dùng để đo lường khả năng sinh lợi từ việc quản lý tài sản hoạt động của công ty. Trong khi chủ sở hữu và chủ đầu tư quan tâm nhiều nhất đến RONW thì ROA cung cấp cách thức quản lý tốt việc sử dụng tài sản để kiếm lợi.

 

Hình 12.4: Mô hình lợi nhuận chiến lược

Số liệu hình 12.4 cho ta thấy Mô hình lợi nhuận chiến lược với dữ liệu giả định.

Mô hình lợi nhuận chiến lược là một công cụ được sử dụng thường xuyên để phân tích ROI trong một doanh nghiệp. Thực  tế mô hình lợi nhuận chiến lược là công cụ kết hợp chặt chẽ dữ liệu trong bảng cân đối kế toán và bảng báo cáo thu nhập từ đó cho thấy các dữ liệu này có liên quan với nhau như thế nào trong việc tính toán ROA.

Một trong những lợi ích cơ bản của Mô hình lợi nhuận chiến lược là nó chỉ ra rất rõ ràng mục tiêu tài chính chủ đạo của công ty là đạt được tăng trưởng ROA. Nhà quản lý thường xuyên tập trung vào những mục tiêu bị giới hạn nhiều hơn. Ví dụ, quản lý bán hàng chỉ tập trung vào bán hàng như mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp, vì vậy, quyết định sẽ đưa vào doanh số được bán. Quản lý cung ứng chỉ tập trung vào tối thiểu hóa chi phí hoặc vòng quay và cảm thấy quyết định nên đưa vào giảm chi phí hoặc tăng hiệu quả sử dụng tài sản. Mô hình lợi nhuận chiến lược chứng minh rằng có 2 cách chủ yếu để doanh nghiệp có thể tăng ROA: quản lý lợi nhuận biên tế ròng và/ hoặc quản lý vòng quay tài sản. Hoạt động logictics có một tác động rất có ý nghĩa với cả hai.

Lợi nhuận biên ròng

Tính bằng đơn vị phần trăm, lợi nhuận biên tế ròng là tỷ số giữa lợi nhuận ròng và doanh thu thuần. Lợi nhuận biên tế ròng đo lường tỷ trọng của mỗi đồng doanh thu được giữ lại như lợi nhuận ròng. Ví dụ, giả định công ty có lợi nhuận biên tế ròng là 5%, có nghĩa là 0.05$ của mỗi 1$ doanh thu là lợi nhuận ròng của công ty. Lợi nhuận biên tế ròng cũng được chia thành nhiều phần cụ thể: doanh số bán hàng, giá vốn bán hàng, chi phí hoạt động. Để đánh giá một cách đầy đủ xem lợi nhuận biên tế ròng có phù hợp không và nó có thể được cải thiện không, điều cần thiết là phảo nghiên cưu mỗi một thành phần để quyết định tăng hay giảm thành phần nào và kết hợp những thành phần nào có thể dẫn đến cải thiện tình trạng lợi nhuận biên tế ròng.

Vòng quay tài sản

Vòng quay tài sản là tỷ số giữa tổng doanh thu với tổng tài sản. vòng quay tài sản đo lường hiệu quả quản lý trong việc sử dụng tài sản. Nó cho thấy bao nhiêu đồng doanh thu được sinh ra từ mỗi đồng đầu tư vào tài sản. Ví dụ, giả định trong vòng quay tài sản của công ty là 2:1, có nghĩa là công ty tạo ra 2$ doanh thu trên mỗi 1$ đầu tư vào tài sản. Hình 12.4 minh họa, có nhiều loại tài sản được sử dụng để tạo ra doanh thu, quan trọng nhất là hàng tồn kho, khoản phải thu và tài sản cố định. Hàng tồn kho là tài sản đặc biệt quan trọng đối với nhiều doanh nghiệp bởi vì nó là một trong những khu vực điển hình lớn nhất trong đầu tư tài sản. Vì vậy, thông thường trong cung ứng người ta tập trung đặc biệt vào quản lý vòng quay hàng tồn kho.

Ứng dụng Mô hình lợi nhuận chiến lược

Mô hình lợi nhuận chiến lược có thể được sủ dụng cho nhiều loại phân tích logictics. Phổ biến nhất là phân tích tác động của những thay đổi trong hoạt động logictics hay phương pháp tính toán ROA và phân tích thành phần trong ROA.

Ứng dụng về giảm tồn kho

Hình 12.5 minh họa, việc thiết lập lại ROA cho thấy rằng một công ty giả thuyết có thể thực hiện việc giảm hàng tồn kho xuống 100$. Minh chứng rõ ràng nhất của việc giảm hàng tồn kho là thông qua sự giảm tài sản tồn kho từ 400$ xuống  300$. Khi đó một sự thay đổi tương tự trong tổng tài sản sẽ dẫn đến vòng quay của tổng tài sản tăng lên 2.22 so với lúc ban đầu là 2.0. Giả thuyết cho rằng lượng doanh thu vẫn không thay đổi nhằm mục đích dễ dàng phân tích hơn.

Tuy nhiên, một sự giảm sút về số lượng hàng tồn kho trung bình cũng có ảnh hưởng đến chi phí hoạt động. Chi phí quản lý hàng tồn kho cũng giảm theo. Trong ví dụ này, phí quản lý hàng tồn kho là 20% , do đó lượng chi phí giảm được là 20$, làm tăng lợi nhuận ròng lên 120$ và lợi nhuận biên tế ròng là 6%. Sự ảnh hưởng kết hợp của giảm hàng tồn kho và tăng lợi nhuận biên tế ròng đã khiến cho ROA tăng từ 10% lên 13.3%. Không còn nghi ngờ tại sao nhiều tổ chức lại tập trung vào các biện pháp pháp kiểm soát hàng tồn kho như vậy!

 

Hình 12.5: Mô hình lợi nhuận chiến lược (giảm dự trữ)

Sự giả định đơn giản hóa là doanh thu không thay đổi ở trên đã đặt ra yêu cầu kiểm tra xa hơn về việc sử dụng Mô hình lợi nhuận chiến lược. Hàng loạt các dự báo liên quan đến các thay đổi tiềm tàng về doanh thu, chi phí, đầu tư được đặt ra và phân tích. Thật ra, cơ cấu Mô hinh lợi nhuận chiến lược rất thích hợp với Mô hình bảng biểu, nó cho phép nghiên cưu sâu và phân tích nhiều loại thay đổi khác nhau trong điểu hành logictics cũng như ảnh hưởng dự kiến của chúng nên ROA. Những thay đổi trong tài sản hoặc những thay đổi dự kiến về chi phí, đầu tư tài sản và doanh thu có thể được phân tích để dự báo sự tác động của chúng nên ROA.

Bảng 12.4: CMROI cho hai sản phẩm

 

Sản phẩm A

Sản phẩm B

Doanh thu

Giá vốn hàng

Lãi gộp

Chi phí trực tiếp

Lãi đóng góp

Trung bình hàng tồn kho

CMROI

$ 100,000

60,000

40,000 (44%)

25,000

15,000 (15%)

40,000

37.5%

$ 50,000

35,000

15,000 (30%)

9,000

6,000 (12%)

10,000

60%

Liên kết với các khái niệm trong phần phân tích chi phí và doanh thu, mô hình lợi nhuận chiến lược có thể được dùng để kiểm tra hiệu suất sử dụng tổng tài sản khi phục vụ những đối tượng khách hàng khác nhau hoặc khi sản xuất những loại sản phẩm khác nhau. Bảng 12.4 cung cấp một ví dụ về hiệu quả đầu tư tồn kho cho 2 sản phẩm (CMROI). Lãi gộp của mỗi sản phẩm được tính bằng cách chỉ tính đến những chi phí trực tiếp cho mỗi sản phẩm, chi phí gián tiếp không được tính.

Tương tự, đầu tư tài sản trực tiếp vào những sản phẩm cụ thể nên được xác định. Trong trường hợp này đầu tư về hàng tồn kho là sự đầu tư tài sản trực tiếp duy nhất. Chú ý rằng sản phẩm B có lợi nhuận bán hàng và lãi gộp thấp hơn nhưng thực sự cho hiệu quả cao hơn vì đầu tư hàng tồn kho trung bình thấp hơn. Khi phân tích tỷ suất sinh lời trên tài sản cho những khách hàng khác nhau thì nên xem xét tới những khoản phải thu và hiệu suất sử dụng tổng tài sản để chọn ra khách hàng nên cung cấp.

Phân tích ROI và khả năng sinh lợi từng thành phần có thể được tiến hành bằng cach sử dụng cơ cấu Mô hình lợi nhuận chiến lược. Nó yêu cầu sự suy tính cẩn thận và nhận diện chính xác chi phí, đầu tư tài sản để có thể vạch ra những thành phần cụ thể. Với phương pháp này, giám đốc điều hành  Logictics có được công cụ hữu hiệu trong việc nhận dạng quy trình logictics, những hoạt động và những quyết định ảnh hưởng tới mục tieei tài chính của tổ chức.

Một vấn đề mà người quản lý hoạt động logictics phải đối mặt là phương pháp đánh giá hoạt động logictics điển hình không được diễn tả thành những thuật ngữ dễ hiểu đối với các quản lý khác. Chẳng hạn như chi phí vận tải mỗi dặm, chi phí bốc dỡ tại kho và những đơn vị đo lường liên quan đến chi phí rất có ý nghĩa đối với việc quản trị những hoạt động này nhưng lại khá tốn nghĩa đối với những giám đốc về tài chính hoặc marketing. Cơ cấu Mô hình lợi nhuận chiến lược khi đó là một công cụ rất hưu dụng cho những hoạt động liên quan đến logictics đáp ứng mục tiêu tổng quát về tài chính của tổ chức. Nó cho ta một phương thức để thấy một cách tường tận những thay đổi trong tài sản hoặc chi phí của logictics liên quan trực tiếp tới đo lường có ý nghĩa hơn đối với những giám đốc khác: đo lường lợi nhuận ròng, số vòng quay tổng tài sản, tỷ suất sinh lợi trển tổng tài sản.

Các yêu cầu đối với báo cáo tài chính

Bởi vì rất nhiều trường hợp về sự sai sót trong quản lý tài chính của những tập đoàn lớn trong năm 2002 của Mỹ. Quốc hội đã thông qua luật Sarbanes- Oxley (SOX). Mặc dù sự tập trung của pháp luật dựa trên báo cáo tài chính mà tổng công ty dành cho  cổ đông của họ, điều luật này đã trở nên rõ ràng ngay sau khi ban hành và nó cũng có ngụ ý quan trọng cho việc quản trị logictics và chuỗi cung ứng, đặc biệt là liên quan đến việc hiệu suất được đo và báo cáo như thế nào. Bởi vì luật SOX bao gồm bất kỳ thông tin có ảnh hưởng đến những cái mà các công ty phải báo cáo với ủy ban chứng khoán và hối đoái (SEC) các công ty phải có quyền kiểm soát để tính toán, báo cáo tất cả chi tiêu và thu thập trên một cơ bản chuẩn hóa. Đặc biệt, các khía cạnh kéo theo của hoạt động thì rất thích hợp với chuỗi cung ứng và quản lý logictics. Việc đầu tiên là yêu cầu cho kiểm soát nội bộ và việc thứ hai liên quan đến các vấn đề về an ninh chuỗi cung ứng.

Phần 404 của luật SOX yêu cầu rằng báo cáo kiểm soát nội bộ phải được gửi cùng lúc với báo cáhawangangf năm của công ty đó. SEC sẽ đánh giá việc kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi các công ty để xác định đầy đủ đảm bảo rằng các báo cáo tài chính là phù hợp với yêu cầu của SEC.

Điều quan trọng cần lưu ý rằng SEC không có những điều mà các  biện pháp kiểm soát và đo lường nội bộ phải làm, nhưng nó yêu cầu rằng các kiểm soát đảm bảo tính toàn vẹn của thông tin tài chính. Về bản chất, các công ty phải chính rằng hệ thống đo lường của đảm bảo rằng các dữ liệu tài chính như: doanh thu, giá vốn hàng bán, chi phí, tài sản, nợ phải trả phải được báo cáo chính xác. Điều đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc đo lường hiệu quả hoạt động logistics.

Bảng 12.5: Thước đo logistics và chuỗi cung ứng về báo cáo tài chính

Quá trình kinh doanh chuỗi cung ứng

Công việc

Những yếu tố trong bảng báo cáo tài chính

( bảng báo cáo thu nhập )

Những yếu tố trong bảng báo cáo tài chính

(bảng báo cáo thu nhập)

Những yếu tố trong bảng báo cáo chuỗi cung ứng

(một số ví dụ)

Lập kế hoạch

Mua nguyên liệu thô

-Nguyên liệu thô

-Khoản phải trả

-Tiền mặt và nợ

-Chi phí bán hàng

-Hiệu quả phân phối của nhà cung ứng

-Chi phí và chất lượng

-Giao hàng đúng kế hoạch

Nguồn lực

Mua dụng cụ, nguyên vật liệu trực tiếp & gián tiếp và dịch vụ

-Tài sản và dụng cụ (ròng)

-Khoản phải trả

-Tiền mặt và nợ

-Khấu hao

-Thuế

-Hiệu quả phân phối của nhà cung ứng

-Chi phí và chất lượng

-Giao hàng đúng kế hoạch

Sản xuất

-Sãn xuất sản phẩm hoặc biến đổi nguyên vật liệu thô.

-Nguyên vật liệu thô

-Bán thành phẩm

-Khoản phải trả

-Chi phí phát sinh

-Lương

-Tiền mặt

-Chi phí bán hàng

-Lương

-Giao hàng đúng hạn

-Chất lượng và chi phí

-Tuyến đường chính xác

-Hiệu quả bằng kế hoạch sản xuất

-Hiệu quả bằng tiến độ sản xuất

-Tỷ lệ phế phẩm

-Mức bán thành phẩm

-Sản xuất theo kế hoạch

Lưu trữ

-Nguyên vật liệu thô

-Bán thành phẩm

-Thành phẩm

 

-Bán thành phẩm

-Thành phẩm

-Khoản phải trả

-Lương

-Tiền mặt

-Chi phí bán hàng

-Lương

-Độ chính xác của hàng tồn kho

-Xếp hàng chèn lót đệm, mức lưu trữ an toàn

-Vòng quay hàng tồn kho

-Tỷ lệ phế phẩm

Vận chuyển

-Vận chuyển hàng hóa

-Bán thành phẩm

-Thành phẩm

-Khoản phải trả

-Lương

-Tiền mặt

-Chi phí bán hàng

-Lương

-Giao hàng đúng hạn

-Chất lượng và chi phí

-Tỷ lệ phế phẩm

 

Bán hàng

Bán sản phẩm, dịch vụ

Khoản phải thu (ròng)

Thành phẩm

Hàng dự trữ đảm bảo

Hoa hồng

Tiền mặt

Doanh thu ròng

Phí tổn hàng bán

Chi phí bán hàng

Chi phí tiếp thị

Hoa hồng

Hiệu quả bảng kế hoạch bán hàng

Dịch vụ khách hàng

Phần trăm thay đổi đơn đặt hàng

Độ chính xác tiếp nhận đơn hàng.

Thu nhập

Doanh thu bán hàng

Khoản phải thu (ròng)

Lưu trữ hàng tồn kho

Khoản phải trả

Lưu trữ đảm bảo

Hoa hồng

Tiền mặt

Doanh thu thuần

Chất lượng và dịch vụ khách hàng

Doanh thu theo kế hoạch.

Bảng 12.5 cung cấp các ví dụ về chuỗi cung ứng và nhưng hoạt động logistics, các yếu tố tài chính bị ảnh hưởng và các biện pháp có thể được sử dụng để đảm bảo tính chính xác của thông tin tìa chính. APICS, một chuyên nghiệp và protiviti, một công ty tư vấn, gợi ý rằng các số liệu nội bộ được hiển thị trong cột 5 của hàng có thể được dùng để xác nhận các yếu tố tài chính được hiển thị trong cột 3 và 4.

Ví dụ, việc đo lường kiểm kê hàng tồn kho chính xác là rất quan trọng để đảm bảo rằng các công ty báo cáo một cách chính xác chi phí bán hàng trên báo cáo thu nhập và hàng tồn kho trên bảng cân đối kế toán. Tương tự như vậy, các biện pháp nội bộ khác được hiển thị trong bảng có thể được liên kết trực tiếp tới bảng báo cáo thu nhập và các bảng cân đối kế toán. Mặc dù khuôn khổ đã đề suất trong bảng chỉ là một ví dụ, nó thể hiện một thực tế là công ty bị yêu cầu để có một hệ thống đo lường nội bộ mà đảm bảo việc tính chính xác của thông tin tài chính theo luật SOX.

Mặc dù luật SOX không tuyên bố một cách trực tiếp các vấn đề về an ninh chuỗi cung ứng như tác động gián tiếp của nó thì rất lớn. Về cơ bản, bởi vì những người điều hành công ty được yêu cầu phải đảm bảo các báo cáo tài chính của công ty họ, họ phải được đảm bảo rằng họ nhận thức được những rủi ro mà công ty phải đối mặt. Nhiều trong những rủi ro này, tất nhiên, có liên quan đến những hoạt động chuỗi cung ứng nói chung và toàn bộ chuỗi cung ứng nói riêng. Một chương trình liên kết khác, Hải quan- Thương mại Hợp tác chống khủng bố (C-TPAT), cũng ảnh hưởng đến sự cần thiết về an ninh chuỗi cung ứng hơn nữa.

Xem xét,ví dụ, các lô hàng của hàng hóa mà có một thời gian dài dẫn đầu và/hoặc có nguy cơ bị lưu giũ lại một thời gian dài tại một biên giới quốc tế bởi vì các nguy cơ an ninh hay sự chậm trễ giao thông vận tải. Trong nhiều trường hợp, người mua có thể bị nghĩa vụ hợp đồng, phải trả tiền cho những hàng hóa bất kể khi nào họ nhận được hàng. Vì vậy người mua sở hữu hàng tồn kho, nhưng có thể không nhận được sở hữu thực sự trong một thời gian. Trong lịch sử, những tình huống như vậy thực chất đã không được những nhà điều hành cao cấp biết đến, nhưng trong môi trường hiện tại cam kết tài chính này và nguy cơ liên quan phải được thừa nhận. Về cơ bản, các yếu tố về an ninh chuỗi cung ứng và tiết lộ đầy đủ về tình hình tài chính của tổ chức được kết hợp với lực lượng điều hành cấp cao để có một sự hiểu biết nhiều hơn về chi tiết các hoạt động logictics. Nó cũng đặt ra một phí cao đối với việc có khả năng giám sat các địa điểm và tình trạng của các lô hàng một cách kịp thời và chính xác.

Mặc dù nhiều nhà quản trị cảm thấy rằng các yêu cầu pháp lý  của luật SOX là một gánh nặng cho tổ chức, những người khác thì xem nó như là một cơ hội để cải tiến. Luôn luôn đặt ra những yêu cầu cho biết chi tiết về nơi sản xuất sản phẩm và nguyên liệu từ điểm xuất sứ của mình để đến địa điểm cuối cùng là điều rất cần thiết cho công ty để cam kết nguồn lực nhiều hơn cho việc quản lý sự hiện hữu của chuỗi cung ứng. Lần lượt, do có khả năng hiển thị lớn hơn, cơ hội tồn tại để cải thiện các quyết định của họ dựa trên các thông tin tốt hơn và kịp thời hơn nữa.

12.2       TÓM TẮT CHƯƠNG

Quản trị hiệu quả hoạt động giao vận logistics và tích hợp chuỗi cung ứng đòi hỏi phải có một khu phân tích để đánh giá được hoạt động và kiểm soát được vấn đề về tài chính. Công cụ thẻ điểm cân bằng (BSC) là một khung phân tích như vậy, nó cho phép giám sát hoạt động của toàn hệ thống, các hoạt động kiểm soát, nguồn lực trực tiếp để có thể đạt được mức năng suất cao hơn.

Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động toàn diện bao gồm các thang đo áp dụng cho từng bộ phận chức năng của hoạt động logistics. Có 5 khía cạnh cơ bản đánh giá hoạt động chức năng được đề cập đến là: chi phí, dịch vụ khách hàng, chất lượng, năng suất và quản trị tài sản. Các công ty hàng đầu còn mở rộng hệ thống đo lường hoạt động chức năng của mình khi áp dụng thêm các thang đo để xác định mức độ yêu cầu của khách hàng. Các thang đo này đánh giá kết quản tuyệt đối hơn là kết quả trung bình, đơn hàng hoàn hảo, các thước đo tập trung vào người tiêu dùng, mức độ thỏa mãn của khách hàng. Mặc dù có nhiều thang đo nhưng việc lựa chọn bộ thang đo nào phù hợp với doanh nghiệp là một công việc không hề đơn giản, để làm được tốt điều này cần phải căn cứ vào nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Để có được sự tích hợp trong hệ thống chuỗi, các công ty hàng đầu còn xây dựng hệ thống đo lường áp dụng chung cho nhiều doanh nghiệp như thang đo số lượng ngày cung ứng của hàng dự trữ, thời gian “ chết” của hàng trong kho, thời gian chu kỳ dòng tiền, tổng chi phí toàn chuỗi.

 

Đánh giá hiệu quả tài chính cần kiến thức phân tích về doanh thu- chi phí và mô hình lợi nhuận chiến lược. Chuẩn mực kế toán truyển thống còn phù hợp để xác định chi phí hoạt động logistics. Để ra quyết định hiệu quả đòi hỏi nhà quản trị phải kết hợp doanh thu và chi phí đối với từng khách hàng cụ thể, kênh cụ thể, sản phẩm cụ thể. Cách tiếp cận lợi nhuận thuần và lợi nhuận đóng góp là 2  trong số những cách tính mới của phân tích doanh thu- chi phí. Chi phí hoạt động giúp nhà quản trị có khả năng theo dõi sát hơn các khoản mục chi phí của dịch vụ giao vận logistics đối với từng phân khúc. Trong khi đó, mô hình lợi nhuận chiến lược giúp nhà quản trị đánh giá tác động của các quyết định giao vận đối với khả năng sinh lời, tối ưu tài sản và mức sinh lời của tài sản. Bên cạnh đó, luật Sarbanes- Oxley cũng được giới thiệu, là một tác phẩm đối với các báo cáo tài chính công bố ra bên ngoài. Theo đó, việc tiết lộ các thông tin dịch vụ logistics và các sự kiện trên bảng cân đối tài chính và lợi nhuận của doanh nghiệp cũng được quy định trong luật này



Xem tin khác

Quản trị chuỗi cung ứng, Đánh giá hoạt động hệ thống đo lường chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng, Đánh giá hoạt động hệ thống đo lường chuỗi cung ứng..
Quản trị chuỗi cung ứng, Mục tiêu của hệ thống đo lường Quản trị chuỗi cung ứng, Mục tiêu của hệ thống đo lường..
ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ TÀI CHÍNH CHUỖI CUNG ỨNG ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG VÀ TÀI CHÍNH CHUỖI CUNG ỨNG..
Quản trị chuỗi cung ứng, Các phương pháp và kỹ thuật phân tích chuỗi cung ứng Quản trị chuỗi cung ứng, Các phương pháp và kỹ thuật phân tích chuỗi cung ứng..
KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 3 ĐỀ SUẤT VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 3 ĐỀ SUẤT VÀ THỰC HIỆN..
KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, Giai đoạn 2 THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, Giai đoạn 2 THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH..