TÌM KIẾM NÂNG CAO

Upload
loading...

KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, Giai đoạn 2 THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH

 

 

KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP

 

11.1       Giai đoạn 2: THU THẬP DỮ LIỆU VÀ PHÂN TÍCH

Một khi việc đánh giá tính khả thi và kế hoạch củ dự án được hoàn thiện, giai đoạn 2 của quá trình nghiên cứu sẽ tập trung vào thu thập dữ liệu và phân tích. Giai đoạn này đòi hỏi việc phân tích các giả định, thu thập dữ liệu và phân tích các giải pháp thay thế.

Những giả định và thu thập dữ liệu

Hoạt động này mở rộng việc đánh giá tính khả thi và kế hoạch của dự á bằng việc phát triển những giả định mang tính kế hoạch cụ thể và chỉ ra những yêu cầu về thu thập dữ liệu bằng cách.

(1) xác định cách thức tiếp cận và kỹ thuật phân tích, (2) chỉ ra và phân tích những gỉa định, (3) chỉ ra những nguồn dữ liệu, (4) thu thập dữ liệu và (5) thu thập những dữ liệu có giá trị.

Xác định cách tiếp cận và kỹ thuật phân tích

Nhiệm vụ lúc đầu của giai đoạn 2 là xác định những kỹ thuật phân tích phù hợp cho tình huống lập kế hoạch được lựa chọn. Mặc dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau có thể lựa chọn, nhưng các kỹ thuật phổ biến nhất vẫn là phân tích, mô phỏng và tối ưu hóa. Một cách tiếp cận mang tính phân tích sử dụng các công cụ số học chẳng hạn như bảng tính để đánh giá mỗi giải pháp vận tải và lưu kho thay thế. Một ví dụ cụ thể của việc tiếp cận mangntính phân tích là xác định mức đánh đổi mục tiêu tối ưu hàng lưu kho và tối đa dịch vụ khách hàng, kỹ thuật này sử dụngncông thuéc được thảo luận trong chương 4. Khả năng sử dụng bảng tính và sự sẵn có của công nghệ hiện nay làm tăng tính vận dụng của công cụ phân tích này trong phân tích hệ thống vận tải và lưu kho.

Một cách tiếp cận mô phỏng có thể được dùng giống như một phòng thí nghiệm để kiểm tra những giải pháp khác nhau áp dụng đối với chuỗi cung ứng vận tải và lưu kho. Kỹ thuật mô phỏng được sử dụng rộng rãi, cụ thể là khi những dấu hiện không chắc chắn đi kèm. Môi trường kiểm tra có thể là môi trường vật chất, như là một hệ thốnh xử lý nguyên vật liệu mẫu minh họa vật lý cho những luồng sản phẩm trong một môi trường được cân bằng, hoặc tính toán với một mô hình vi tính. Các phần mềm mô phỏng hiện nay làm cho phương pháp này trở thành một trong những phương pháp tiếp cận có chi phí thấp nhất để đánh giá những phương pháp vận tải và luư kho có thể áp dụng. Ví dụ, một phần mềm mô phỏng chạy trên máy vi tính có thể mô tả những luồng hàng, các mức độ hoạt động và các đặc điểm hoạt động.

Phầm mềm hiện tại mô phỏng một trong những cách tiếp cận hiểu quả nhất về chi phí cho việc đánh giá hệ thống vận tải và lưu kho thay thế. Ví dụ, một mô phỏng dựa trên phần mềm máy vi tính có thể miêu tả những dòng hàng, mức độ hoạt động và đặc điểm về hoạt động. Rất nhiều mô hình có khả năng minh họa những đặc điểm của hệbthống bằng các biểu đồ. Ví dụ, môbhình năng động chuỗi cung ứng có thể được sử dụng để minh họa đánh đổi giữa chiến lược luư kho hàng và hoạt động của chuỗi cung ứng.

Việc tối ưu hóa sử dụng những chương trình toán học và tuyến tính để đánh giá những phương án thay thế và lựa chọn thiết kế tốt nhất hoặc những phương án thay thế được cân nhắc. Trong khi việc tối ưu hóa là một cách hiệu quả để xác định phương án tốt nhất, thì quy mô áp dụng của phương pháp này nhỏ hơn nhiều so với phương pháp mô phỏng.

Định nghĩa và đánh giá các giả định

Định nghĩa các giả định và tổng quan dựa trên phân tích tình huống, mục tiêu dự án, các hạn chế và các tiêu chuẩn đo lường. Với mục địch lập kế hoạch, những giả định chỉ ra những đặc điểm hoạt động quan trọng, các biến số và tính kinh tế của hệ thống hiện tại và hệ thống thay thế. Trong khi cấu trúc có thể khác biệt theo dự án, những giả định nói chung sẽ rới vào một trong ba loại: giả định về kinh doanh, những giả định về quản lý và những giả định về phân tích.

Những giả định về kinh doanh chỉ ra những đặc điểm của môi trường kinh doanh nói chung, bao gồm những thị trường liên quan, người tiêu dùng, xu hướng sản phẩm, sự sẵn có của các nguồn lực và những hoạt động cạnh tranh. Những giả định xác định môi trường chung , bao trùm mà trong đó những kế hoạch vận tải và lưu kho diễn ra. Những giả định về kinh doanh nói chung vượt ngoài khả năng của các hãng để có thể thay đổi.

Những giả định về quản lý chỉ ra những đặc điểm về kinh tế và vật lý của môi trường vận tải và lưu kho hiện tạo hoặc thay thế và noínchung nằm trong khả năng quản lý của nhà quản trị, chúng có thể can thiệp để thay đổi hoặc điều chỉnh. Những giả định về quản lý đặc trưng bao gồm vị trí của nhà kho, loại hình vận tải và hợp đồng chủ sở hữu, các quá trình vận tải và lưu kho và những chi phí cố định và chi phí biến đổi.

Những giả định về phân tích chỉ ra những rào cản và những giới hạn được yêu cầu để điều chỉnh những khúc mắc trong phân tích kỹ thuật. Những giả định này thường tập trung vào quy mô của vấn đề, mức ođọ phân tích cụ thể và phương pháp giả quyết. Bảng 11.4 cung cấp mô tả chi tiết hơn cho mỗi thể loại giả định.

Bảng 11.4: Các yếu tố phân loại giả định

Các giả định

Mô tả

Giả định về kinh doanh

Phạm vi

Giải pháp

Xu thế thị trường

 

 

Xu thế sản phẩm

 

Các hoạt động cạnh tranh

 

 

Định nghĩa các đơn vị kinh doanh, các dòng sản phẩm

Các lựa chọn được xem xét

Bản chất và mức độ thay đổi trong hình thức mua và ưu tiên của thị trường. Những thay đổi được dự báo về nguồn lực và chi phí

Bản chất và mức độ thay đổi trong hành vi mua hàng đặc biệt liên quan đến kích cỡ bao bì và đóng gói

Điểm mạnh, điểm yếu và chiến lược của hệ thống giao vận mà đối thủ áp dụng?

Giả định về quản trị

Các thị trường

 

Các điểm phân phối vận tải

 

Vận tải

 

 

Hàng tồn kho

 

 

Mô hình nhu cầu theo thị trường, sản phẩm, quy mô chuyến hàng

Vị trí, chính sách hoạt động, đặc điểm kinh tế và kết quả thực hiện của các cơ sở hiện tại và các cớ sở tiềm năng khác

Cước phí vận tải cho việc vận chuyển hàng hóa giữa điểm phân phối hiện tại và điểm phân phối tiềm năng so với khách hàng

Mức hàng tồn kho và chính sách hoạt động tại mỗi điểm phân phối

Giả định về phân tích

Nhóm sản phẩm

 

Khu vực thị trường

 

 

Thông tin sản phẩm chi tiết được tổng hợp để phug hợp với phạm vi sử dụng các kỹ thuật phân tích

Nhu cầu khách hàng theo nhóm để xác định tổng các thị trường với phạm vi kỹ thuật phân tích

 

Xác định các nguồn dữ liệu

Trong thực tế, quá trình thu thập dữ liệu bắt đầu với một đánh giá tính khả thi. Ngoài ra, một đặc điểm khá chi tiết về dữ liệu là cần thiết để xây dựng hoặc điều chỉnh kỹ thuật phân tích mong muốn. Tuy nhiên vào thời điểm này trong quá trình lập kế hoạch, sô liệu chi tiết phải được thu thập và tổ chức để hỗ trợ cho việc phân tích. Với những tình huống khi dữ liệu khó có thể thu thập hoặc khi mức độ về chính xác là không biết được, thì sự phân tích độ nhạy cảm có thể sử dụng để chỉ ra những ảnh hưởng của dữ liệu. Ví dụ, một phân tích ban đầu có thể được hoàn thiện bằng cách sử dụng chi phí vận tải được ước tính với khoảng cách dựa trên phân tích hồi quy. Nếu các phân tích chỉ ra rằng câu trả lời tốt nhất là nhạy cảm với giá cước vận tải thực tế, thì phân tích này cần thu thập thêm thông tin về cước vận chuyển. Một khi một kỹ thuật được đưa vào hoạt động, việc phân tích độ nhạy có thể được sử dụng để chỉ ra các hướng điều chỉnh giải pháp chính. Khi những trình điều khiển nhạy cảm này được thực hiện, ví dụ như chi phí vận tải ra bên ngoài, những nỗ lực bổ sung có thể được hướng đến để tăng độ chính xác của chi phí vận tải.

Các loại dữ liệu quan trọng đầu tiên là bán hàng và đơn đặt hàng của các khách hàng. Dự báo doanh thu hàng năn và tỷ lệ doanh thu theo tháng, cũng nhữ mô hình mùa vụ, thường là cần thiết để xác định khối lượng vận tải và lưu kho và mức độ hoạt động. Những ví dụ lịch sử về mẫu hóa đơn khách hàng cũng cần thiết dẻe chỉ ra mô hình vận chuyển bằng thị trường và kích cỡ lô hàng. Sự kết hợp của các biện pháp đo lường tổng nhu cầu và các đặc trưng vận chuyển hàng hóa chỉ ra những đặc điểm về yêu cầu vận tải và lưu kho cần phải được áp dụng.

Dữ liệu khách hàng cụ thể cũng được yêu cầu để thêm vào một chiều hướng không gian để phân tích vận tải và lưu kho. Kích thước không gian phản ánh thực tế là việc vận tải và luư kho hiệu quả để khách hàng chủ chốy yêu cầu rằng chi phí giao hàng và thời gian liên quan kết hợp với những địa điểm chính xác được định lượng. Trong phân tích tổng thể, khách hàng và thị trường  thường được tập hợp theo vị trí, loại, kích cỡ, tần suất đặt hàng và mức độ tăng trưởng để giảm mức độ phức tạo trong phân tích. Tuy nhiên, phép cộng tổng hợp các yếu tố như vậy là không thỏa đáng cho việc đánh giá khả năng đáp ứng dịch vụ với những khách hàng chủ chốt.

Để phân tích hệ thống vận tải và lưu kho trong chuỗi cung ứng, cần thiết phải xác định được và theo dõi những chi phí liên quan đến việc xản xuất và mua sắm. Trong khi địa điểm nhà máy sản xuất không phải là một thành phần biến đổi trong một hệ thống thiết kế vận tải và lưu kho, thì cách thành phần khác được đặc biệt quan tâm xem xét đến đó là: số lượng và địa điểm các nhà máy, kết hợp sản phẩm, kế hoạch sản xuất và mùa vụ. Chính sách và những chi phí liên quan đên việc chuyển hàng lưu kho, đặt hàng lại và quy trình xử lý kho bãi cần được phải được chỉ ra. Đặc biệt, các quy tắc kiểm soát hàng lưu kho và các quy trình phân bổ sản phẩm là những yếu tố quan trọng. Cuối cùng, đối với mỗi nhà kho hiện tại và tiềm năng, cần thiết phải thiết lập các chi phí hoạt động, trang thiết bị, kết hợp sản phẩm, mức độ lưu trữ và những khả năng về dịch vụ.

Những yêu cầu về dự trữ vận tải bao gồm số lượng và các loại mô hình được sử dụng, các phương thức lựa chọn mô hình, tỷ lệ và thời gian vận chuyển, quy tắc vận chuyển hàng và các chính sách. Nếu việc vận chuyển tư nhân được đưa vào phân tích, thì thông tin về đặc điểm của đội tàu tư nhân cũng cần phải được quan tâm.

Các cuộc thảo luận trước đó cung cấp một số quan điểm liên quan đến các dữ liệu cần thiết để đánh giá những phương án vận tải và lưu kho khác nhau, căn cứ  chính để xây dựng quy trình thu thập dữ liệu sau khi lựa chọn kỹ thuật phân tích là để đảm bảo dữ liệu phù hơp với các yêu cầu về phân tích kỹ thuật.

Rất hưu ích khi so sánh năng lực và cách thức dòng hàng hóa được vận hành trong hệ thống vận tải và kho bãi các đối thủ trong ngành để cung cấp thông tin liên quan đến chiến lược của đối thủ cạnh tranh và các khả năng. Trong nhiều trường hợp, thông tin này có sẵn từ các tài liệu xuất bản, báo cáo hàng năm và kiến thức chung của cấp điều hành công ty. Mục đích chính trong việc thu thập dữ liệu này là để cung cấp các tiêu chuẩn ạnh tranh để so sánh khả năng phục vụ khách hàng, mạng lưới cơ sở và khả năng điều hành.

Thu thập dữ liệu

Khi các nguồn dữ liệu khác nhau được chỉ ra, việc thu thập dữ liệu có thể được bắt đầu. Quá trình bao gồm việc két nối các dữ liệu cần thiết và chuyển đổi định dạng phù hợp với các công cụ phân tích. Đây là một công việc tẻ nhạt và tốn nhiều thời gian, vì vậy thường xuyên xảy ra lỗi.

Những lỗi tiềm năng bao gồm việc thu thập dữ liệu từ những thời điểm không mang tính đại diện và xem nhẹ các dữ liệu không được coi là quan trọng đối với hoạt động của hệ thống vận tải và kho bãi, ví dụ như: số lượng khách hàng được phục vụ. Với lý do này, quá trình thu thập dữ liệu nên được ghi chép cẩn thận để hỗ trợ trong việc xác định lỗi mà có thể làm giảm độ chính xác của phân tích và xác định bất kỳ thay đổi cần thiết nào để đạt được độ chính xác chấp nhận được.

Dữ liệu phù hợp

Ngoài việc thu thập dữ liệu để hỗ trợ việc phân tích khác nhau, các trường hợp cơ sở hoặc dữ liệu phù hợp cần phải được thu thập để xác định rằng các kết quả phản ánh chính xác thực tế. Câu hỏi cụ thể liên quan đến việc liệu rằng các cách tiếp cận phân tích được lựa chọn có phản ánh chính xác các hoạt động vận tải và lưu kho trong quá khứ. Mục tiêu để có được dữ liệu phù hợp là để tăng cường độ tin cậy với các nhà quản lý trong quá trình phân tích. Nếu quá trình này không mang đến kết quả đáng tin cậy, nhà quản lý sẽ có ít niềm tin và việc phân tích kết quả và những đề suất.

Việc phân tích

Việc phân tích liên quan đến việc sử dụng các dữ leieuj và kỹ thuật để đánh giá chiến lược và  những lựa chọn về chiến lược vận tải và lưu kho khác nhau. Quá trình phân tích bao gồm: (1) câu hỏi phân tích, (2) phân tích mức độ phù hợp cơ bản, (3) phân tích các giải pháp thay thế và (4) phân tích độ nhạy.

Các câu hỏi phân tích

Nhiêm vụ đầu tiên xác nhận các câu hỏi phân tích cụ thể liên quan đến các giải pháp và mức độ rủi ro chấp nhận. Các câu hỏi cụ thể được xây dựng dựa trên những mục tiêu nghiên cứu và những rào cản bằng việc chỉ ra các chính sách và thông số đo lường hoạt động cụ thể.  Ví dụ, những  câu hỏi cho việc phân tích vị trí nhà kho phải chỉ ra những kết hợp vị trí cụ thể được đánh giá. Trong trường hợp của phân tích hàng lưu kho, những câu hỏi có thể tập trung và các mức độ dịch vụ và rủi ro khác nhau.

Bảng 11.5: Tóm tắt kết quả thực hiện của các điểm phân phối

Trung tâm phân phối

Khối lượng hàng vận chuyển

Vận chuyển trong khu vực

Vận chuyển ngoài khu vực

Chi phí lưu kho

Tổng chi phí

Newwark

693.000

317,000

264,000

476,000

1,750,000

Atlanta

163.400

62,000

62,000

92,000

216,000

Chicago

455.540

208,000

284,000

303,000

795,000

Los angerles

10.020

5,000

5,000

6,000

16,000

Total

1.294.960

592,000

615,000

877,000

2,777,000

Giả sử rằng một nỗ lực lập kế hoạch chiến lược tập trung vào việc chỉ ra một mạng lưới nhà kho để phục vụ cho thị trường nội địa của Mỹ. Giả định rằng mạng lưới hiện tại sử dụng 4 nhà kho được đặt tại Newark, New Jersey, Atlanta, Georgia, Chicago, Illinois và Los Angeles, Canifornia. Bảng 11.5 tổng hợp khối lượng hàng vận chuyển, chi phí và những đặc điểm về dịch vụ của hệ thống hiện tại. Khối lượng hàng vận chuyển được hiểu là trọng lượng lô hàng; chi phí được hiểu là các khoản phí về lưu kho và vận tải; mức đọo dịch vụ được hiểu là phần trăm lượng hàng bán được phục vụ trong 2 ngày từ nhà kho. Các câu hỏi phân tích là: (2) Nếu nhà kgo ở Chicago đóng cửa thì hiệu quả hoạt động của toàn bộ hệ thống bị ảnh hưởng như thế nào?, (2) Nếu bỏ đi nhà kho ở Los Angeles thì hiệu quả hoạt động của hệ thống bị tác động như thế nào và (3) câu hỏi tương tự với nhà kho ở Atlanta?

Những câu hỏi này đại diện cho một vài trong số những phương án phân tích khác nhau đặt ra dối với hệ thống dịch vụ giao vận. Các câu hỏi phân tích khác có thể liên quan đến các vấn đề như: nên thêm vào hay bỏ bớt đi số lượng nhà kho hiện có, đánh giá về các vị trí khác hoặc có cần điều chỉnh chính sách quản lý hàng lưu kho không ví dụ như việc lưu hàng hóa dựa trên khối lượng sản phẩm. Điều quan trọng là nhận ra rằng việc xem xét phải được thực hiện để chỉ ra những câu hỏi phân tích và dựa trên các câu hỏi này để xác định các trường hợp có thể xảy ra. Cách làm này giúp tiết kiệm thời gian và công sức khi điều chỉnh mô hình hoặc thu thập thêm dữ liệu.

Xác nhận những phân tích cơ bản

Nhiệm vụ thứ hai có liên quan đến việc phân tích nền tảng của môi trường vận tải và lưu kho hiện tại. Những kết quả nên được so sánh với các dữ liệu được thu thập trước đó để chỉ ra mức độ phù hợp giữa kết quả trong quá khứ và kết quả phân tích. Sự so sánh nên tập trung chỉ ra những khác biệt đáng kể và nguồn lỗi có thể phát sinh. Các lỗi tiềm năng có thể phát sinh từ nguồn dữ liệu đầu vào không chính xác hoặc không đúng, quá trình phân tích không chính xác hoặc không phù hợp, hoặc nguồn dữ liệu phù hợp nhưng không mang tính đại diện. Khi gặp phải những sự cố trên, các lỗi nên dược xác định và sửa chữa. Trong một số trường hợp, các lỗi không thể sửa được nhưng có thể được giải thích. Khi mà sự khác biệt đã được loại bỏ hoặc giải thích với mức độ dung sai cho phép là 2%, giải pháp được chấp nhận rộng rãi như một đại diện hợp lệ.

Phân tích những giải pháp thay thế

Một khi phương pháp tiếp cận này được thông qua, bước tiếp theo là hoàn thiện việc đánh giá những phương án thiết kế. Việc phân tích nên xác định những đặc điểm hoạt động liên quan cho mỗi thiết kế hoặc chiến lược khác nhau. Các lựa chọn cần định lượng mức độ ảnh hưởng của những thay đổi trong chính sách quản lý và hoạt động liên quan tới những yếu tố như số lượng nhà kho, mức độ mục tiêu hàng lưu kho, hoặc thông tin kích thước lô hàng vận tải.

Phân tích độ nhạy

Khi phân tích này được hoàn thành, những giải pháp thực hiện khác nhau tốt nhất sẽ được áp dụng phân tích độ nhạy. Những yếu tố không thể kiểm soát được ở đây bao gồm nhu cầu, nguồn chi phí và những hoạt động cạnh tranh có thể biến đổi để đánh giá khả năng của từng giải pháp trong nhiều điều kiện khác nhau. Ví dụ, giả sử rằng những phân tích thay thế chỉ ra rằng 4 nhà kho cung cấp một tỷ lệ hoán đổi lý tưởng giữa chi phí/ dịch vụ cho một khu vực thị trường của hãng dựa trên mức độ nhu cầu cơ bản. Việc phân tích độ nhạy sẽ kiểm tra tính phù hợp của giải pháp này bằng việc đưa ra các kịch bản khác nhau về mức nhu cầu và chi phí. Nói cách khác, 4 nhà kho này sẽ vẫn là những quyết định đúng nếu nhu cầu tăng lên hoặc giảm đi 10%? Môi trường hiện tại đòi hỏi một sự đánh giá về tác động của chi phí năng lượng tăng lên. Việc phân tích độ nhạy kết hợp với việc đánh giá xác suất cho từng kịch bản có thể xảy ra, sau đó được sử dụng trong cây quyết định để chỉ ra phương án tốt nhất đáp ứng được kỳ vòng của nhà quản lý.

 

Giai đoạn 3 lập kế hoạch hoạt động và những nỗ lực thiết kế bằng cách đưa ra các đề suất quản lý cụ thể và xây dựng kế hoạch thực hiện.



Xem tin khác

KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 1 ĐỊNH NGHĨA VẤN ĐỀ GIAO VẬN VÀ LẬP KẾ HOẠCH KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP, GIAI ĐOẠN 1 ĐỊNH NGHĨA VẤN ĐỀ GIAO VẬN VÀ LẬP KẾ HOẠCH..
Quản trị chuỗi cung ứng, Phương pháp lập kế hoạch Quản trị chuỗi cung ứng, Phương pháp lập kế hoạch..
KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP KẾ HOẠCH MẠNG LƯỚI VÀ TÁC NGHIỆP..
Thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng, Câu hỏi ôn tập và thảo luận Thiết kế mạng lưới chuỗi cung ứng, Câu hỏi ôn tập và thảo luận ..
Quản trị chuỗi cung ứng, Xây dựng chiến lược kho vận Quản trị chuỗi cung ứng, Xây dựng chiến lược kho vận..
Quản trị chuỗi cung ứng, Tích hợp chi phí hệ thống Quản trị chuỗi cung ứng, Tích hợp chi phí hệ thống..